Search

 

 Tin Tuc News
Article List

KINH DỊCH VỚI Y HỌC- ĐÃ ĐẾN LÚC KHẲNG ĐỊNH: KINH DỊCH LÀ DO NGƯỜI BÁCH VIỆT SÁNG TẠO


LỜI GIỚI THIỆU

 

Nếu coi y học là chủ thể, dịch học ( mà nòng cốt là Kinh Dich ) là khách thể thì dịch học là một trong những công cụ, phương tiên  cổ truyền của nền triết học cổ phương Đông được các danh y nhiều thời đại vận dụng soi sáng, lý giải nhiều luận cứ  quan trọng trong tứ chẩn : vọng văn, vấn, thiết để chẩn bệnh và đề ra kế hoạch chữa  từng bệnh cho từng cá thể . Đó là điều người xưa gọi là biện chứng luận trị ( chữa bệnh theo lý luận biện chứng của dịch học ). Đây là vấn đề lớn, cực kỳ lớn , đã từng có nhiều khảo cứu khoa học của nhiều thế hệ y dược phương dông và phương tây qua nhiều thời đại.

Bài viết của tác giả đã đề cập đến một trong những điểm xuất phát của vấn đề khoa học rất lớn này. Ở đây ta không đề cập đến vấn đề tồn nghị và khảo dị về xuất phát xứ của Kinh dịch- một phạm trù khoa học mà phải có  nhiều ngành khoa học ( lịch sử, khảo cổ , dân tộc ,ngữ văn, tự dạng …cùng tham gia giải quyết thì mới mong tiếp cận được phần nào thực tế khách quan – mà tập trung chú ý vào mối quan hệ biện chứng giữa khoa học y học và khoa học dịch học ( nói đúng hơn là triết học Dịch học ) , mà tác giả đề cập. Đây là một hướng đề cập cần thiết đang nằm chung trong xu thế nghiên cứu khoa học của các tác giả y dược học Thái Tây và Phương Đông với nền  triết học cổ phương Đông mà trước hết là Kinh Dịch. Đây là vấn đề vừa cũ, vừa mới, ngày càng có xu thế mở rộng và đi sâu : đã xuất hiện một chuyên ngành khoa học hep – thành quả của sự nối tiếp liên thông giữa hai ngành khoa học ; y học và dịch học – y dich học( médecine yìologie / yìology medicine ).. Bài viết này dù giới hạn  trong phạm vi đề cập nhưng có ý nghĩa góp thêm tác dụng khởi phát. Đó là điều đáng quý  cho những công trình khoa học tiếp theo của tác giả cũng như của nhiều nhà khoa học khác.

Tác giả là một bác sỹ quân y , có gần nữa thế kỷ liên tục  phục vụ trên nhiều cương vị : bác sỹ lâm sàng, quản lý công tác huấn luyện quân y , nhiều năm công tác tại bệnh viện y học cổ truyền quân đội , có điều kiện   nghiên cứu về y lý của y học cổ truyền. Về trước tác y học , tác giả đã có các đầu sách ::

-Với kiến thức y học hiện đại hiểu sâu hơn y lý Đông y ( Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2003)

- Luận về học thuyết thuỷ hoả của Hải Thượng Lãn Ông( Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, 2006 )

- Cẩm nang về lý luận và chẩn trị y học cố truyền Phương Đông ( Nhà xuất bản y học, 2008 )

Ngoài ra tác giả  còn có một số công trình văn học khác đã được xuất bản.

    Bài viết này được tác giả thực hiện vào tuổi 85.

 

Theo quan niệm truyền thống của nhân dân ta : thất là hạnh phúc cho những ai vượt qua tuổi 80 mà làm được một trong ba điều :lập đức. lập công, lập ngôn. Tác giả bài viết này đã thực hiện  được cả ba điều cao quý.

 

Biên tập WebQDY vui mừng đón nhận, giới thiệu  bài viết này và chúc lành chúc phúc tác giả bài viết.

Sau đây là toàn văn bài viết khoa học này :

*

Từ xưa đến nay các học giả phương Đông, phương Tây đều cho rằng tổ tiên người Trung Hoa đã sáng tạo ra Kinh Dịch. Không những các học giả Thế giới nhận thức như trên, mà đến cả học giả Việt Nam cũng ngộ nhận như vậy.

Trong các tác phẩm Kinh Dịch khá phổ biến của: Ngô Tất Tố, Phan Bội Châu, đến các tác giả Nguyễn Mạnh Bảo, Nguyễn Duy Tinh, Nguyễn Hiền Lê cũng mơ hồ rằng đó là do các ông "Thánh" Trung Hoa đã sáng tạo nên.

 

Một số nhà khoa học nổi tiếng Thế giới như:

 

* Fritjof Carpra: Là giáo sư ngành vật lý tại các trường Đại học và các viện nghiên cứu tiếng tăm tại Mỹ và Anh trong tác phẩm: "The tao of physics"

"Đạo Vật Lý".         Cũng ghi rằng: Kinh Dịch là một bộ kinh của Nho giáo là tác phẩm đưa thẳng vào trung tâm của nền văn hoá và tư tưởng Trung Quốc.

* Richard Wilhelm người Mỹ: Nhà nghiên cứu tư tưởng Trung Quốc nổi tiếng đánh giá về Kinh Dịch:

Kinh Dịch không ai chối cãi được là một trong những quyển sách quan trọng nhất của văn học thế giới - Nó manh nha từ thời cổ đại huyền bí.

Cho đến nay các nhà thông thái quan trọng của Trung Quốc vẫn còn tìm hiểu về nó - Hầu như  tất cả những tư tưởng lớn và quan trọng nhất của một lịch sử 3000 năm ở Trung Quốc một phần là do cuốn sách này gợi mở, phần khác là muốn lý giải nó, để ta có thể yên tâm nói rằng: Trong Kinh Dịch một nền minh triết già dặn nhất của ngàn năm được trình bày.

Tác phẩm Kinh Dịch đã đề ra một khái niệm về cấu trúc vận hành, chúng liên tục sinh thành và lại hoại diệt trong dòng chảy vũ trụ của Đạo. Và các mẫu hình về Âm dương, tứ tượng bát quái và dần dần từ điểm xuất phát là quẻ 3 vạch trồng lên nhau thành 6 vạch là một tổ hợp toán học cổ đại nhất tạo thành 64 quẻ  tiên thiên. Đó là tính lô gích: Thái cực sinh Âm dương, Âm dương  sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái. Các nhà đạo học phương Đông có một quan điểm "Động" về vũ trụ tương tự như vật lý hiện đại và vì thế không có gì ngạc nhiên khi họ cũng dùng hình ảnh của vũ điệu.

Alexandra David Neel đến Tây Tạng và một vị Lạt ma là đạo sư thanh âm kể cho bà nghe quan niệm của mình về vật chất như sau: Mọi sự vật đều do nguyên tử tập hợp lại, những nguyên tử đó nhảy múa và qua sự vận động của chúng mà sinh ra âm thanh. Nếu nhịp điệu của điệu nhảy múa thay đổi thì âm thanh cũng thay đổi… Mỗi nguyên tử là một bài ca bất tận và mỗi một âm thanh hình thành trong mỗi chớp mắt bằng những dạng hình cô đọng và tinh tế.

Khái niệm hiện đại tương tự của nguyên tử chẳng qua cũng chỉ là sóng mà tần số tỷ lệ với năng lượng của chúng. Theo thuyết lượng tử thì quả thật mỗi hạt cơ bản ca bài ca bất tận của nó và phát sinh ra những cơ cấu năng lượng có tiết điệu trong dạng hình cô đọng và tinh tế. Nguyên lý cơ bản của cấu trúc trong Kinh Dịch là sự tương tác giữa 2 cực Âm Dương. Dương được biểu thị bằng một vạch liền () và Âm biểu thị bằng một vạch đứt (– –), và hệ thống bát quái được xây dựng trên cặp này. Vật lý hiện  đại hiểu vấn đề này bằng hình thái cấu trúc Hadron, đó là sự chuyển hoá lẫn nhau liên tục của chúng từ hạt này qua hạt khác, sự chuyển hoá hạt hình thành các trạng thái liên kết của hai hay nhiều Hadron. Tiến trình này được gọi chung là phản ứng hạt là tính chất chủ yếu của tương tác mạnh và phải được lưu ý trong một mô hình lượng tử tương đối của Hadron. Mô tả Hadron và tương tác của chúng được gọi là thuyết Ma trận S() được Heisenberg đề xuất năm 1943.

Trong Kinh Dịch các quẻ 3 vạch hay 6 vạch đại diện cho cấu trúc của Đạo, cũng được sinh ra thông qua sự tương tác Động của Âm Dương, chúng được phản ánh trong mọi tình huống của vũ trụ và con người. Các tình huống này là một giai đoạn trong dòng chảy liên tục, và biến động đó là tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch. Kinh Dịch có lẽ là sự tương đồng gần nhất với thuyết Ma trận S(). Trong thuyết Ma trận S tiến trình này là phản ứng hạt, lý giải mọi hiện tượng của thế giới Hadron, Trong Kinh Dịch tiến trình cơ bản là biến dịch và được xem là then chốt để hiểu mọi hiện tượng thiên nhiên, Biến Dịch là điều làm Thánh nhân đạt tới mọi điều sâu thẳm và nắm được hạt nhân của mọi sự. Trong 8 quẻ của bát quái đồ là 8 hình ảnh tượng trưng đại diện cho giai đoạn chuyển đổi. Không chú ý đến sự vật đang ở trong giai đoạn đó mà hãy chú ý đến sự vận động của chúng trong lúc biến dịch. Vì thế 8 quẻ không đại diện cho sự vật mà chúng đại diện cho khuynh hướng vận động. Các nhà khoa học vật lý hiện đại đang đặt vấn đề phải thật sự nhìn sự vật trong thế giới hạ nguyên tử theo cách đó, nhấn mạnh: Vận  động, Biến dịch và chuyển hoá và xem hạt là những dạng chuyển tiếp trong một tiến trình vũ trụ đang phát triển.

Giáo sư Fritjof Carpra còn có một câu kết luận: Biến dịch là điều làm Thánh nhân đạt tới mọi điều sâu thẳm và nắm được hạt nhân của mọi vật.

Trong Kinh Dịch cũng thế, chính sự biến hóa sinh ra cấu trúc, sinh ra các quẻ, như những kênh phản ứng, các  hình ảnh tượng trưng này đại diện các cách thế  thay đổi cũng như năng lượng chạy xuyên qua kênh phản ứng thì sự Biến dịch, chạy xuyên qua các vạch của quẻ.

Nêu một số lý luận sâu sắc của giáo sư đã vận dụng để nói rằng Kinh Dịch của người Việt cổ xa xưa  trong điều kiện cuộc sống, trong điều kiện trí tuệ mà kiến thức chưa thật phát triển, mà ngày nay các nhà khoa học giỏi nhất dùng để gắn với những suy nghĩ về cấu trúc hạ nguyên tử Hadron, tiến trình phán ứng hạt và tương tác của chúng được gọi là thuyết Ma trận S của nền vật lý nguyên tử trong thời hiện đại.

Tuy nhiên giáo sư cũng chưa nắm được xuất xứ chính của Kinh Dịch là một điều rất đáng tiếc.

Về nền văn minh Việt cổ, qua bao nhiêu thời đại cha ông chúng ta đã để một thời gian qua dài lãng quên nó. Tuy nhiên cũng có nhiều lý do để chúng ta tự an ủi là:

Dân tộc Bách Việt, và cả dân tộc Việt Nam hiện nay, chúng ta liên tục chiến đấu không ngừng do sự bành trướng của các thế lực hiếu chiến phương Bắc, đã thôn tính các quốc gia lân cận phía Nam.

Vùng đất rộng lớn giữa hai lưu vực của 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử, từ Hồ Đồng Đình đến phía Nam núi Ngũ Lĩnh vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Bách Việt trong đó có dân tộc Việt Thường (thuộc tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, và Lưỡng Quảng ngày nay).

Hàng nghìn năm Bắc thuộc, bao nhiêu cuộc nổi dậy bao nhiêu cuộc đấu tranh, bao nhiêu cuộc di cư về phương Nam để chống sự đồng hoá, giữ lấy giống nòi Việt Nam, giữ lấy mảnh đất còn lại của Tổ Quốc Việt Nam để tồn tại, nên gác lại nhiều việc phải làm cho dân tộc.

Những năm dài đô hộ quân giặc đã cướp đi mọi thứ, đốt đi mọi thứ, những cái gì gọi là văn hoá của đất nước, chúng huỷ diệt sạch, trong kho tàng lưu trữ của đất nước, những cái gì thuộc về văn hoá, thuộc về lịch sử oai hùng thuộc về văn minh không còn một tư liệu nào.

Đến nay các nhà khoa học, các sử gia tuy vẫn tìm trong kho lưu trữ các văn bản về  văn hoá và nền văn minh Việt cổ nhưng hiệu quả không nhiều. Mới đây một số nhà khoa học, 1 nhóm trí thức trẻ, tìm ra phương pháp giả ngoại: Đến các khu vực xưa là trung tâm hoạt động của người Việt cổ, các khu vực đền chùa miếu mạo đến nhà thờ các dòng họ lớn tìm đọc các gia phả, ngọc phả, thần phả, nhờ vậy cũng tìm được nhiều chứng tích văn tự mà kẻ địch không cướp phá, thiêu huỷ còn sót lại.

Ngoài ra còn tìm hiểu những thành tựu về khảo cổ, về những chứng tích của người xưa trên xương cốt, trên những vật liệu, vật dụng tuỳ táng của các khu di chỉ khảo cổ.

Sưu tầm khảo cứu những bài viết những công trình khám phá  mới trong vài ba chục năm gần đây của những tác giả người Việt ở trong và ngoài nước, các học giả người nước ngoài, nhất là người phương Tây (Pháp, Mỹ) và Trung Quốc, đã rất vô tư nghiên cứu chuyên sâu:

 

1. Chứng lý lịch sử cá nhân của cụ tổ Phục Hy.

 

Để khẳng định Kinh Dịch là do người Bách Việt sáng tạo trước hết xin tìm hiểu những chứng tích của cụ tổ Phục Hy:

Theo Cổ Lôi Ngọc Phả truyền thư do Thái Bảo Hương Quận Công, Nguyễn Văn Chi phụng sao ghi rằng: Thủa khai thiên lập địa, tổ tiên ta sinh cơ lập nghiệp ở miền tây, thủy chung đã bảy nghìn năm rồi, trên núi dưới làng có nhà đá (thạch thất), đất rộng bao la nhà cửa thôn xã ấm cúng, ruộng  đất màu mỡ, lắm dâu biếc tre xanh. Vua cả đứng đầu là Phục Hy, tên nước là Cực Lạc, cày cấy lấy gạo, đào giếng lấy nước đều do dòng họ Phục Hy. Ngày giỗ Vua cả Phục Hy tại miếu Hy Sơn là mùng 1 tháng 4 (âm lịch).

Theo giáo sư Bùi Văn Nguyên: Trong tác phẩm của ông "Việt Nam và cội nguồn trăm họ" do nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội ấn hành năm 2001.

Giáo sư đã đọc trong Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư, tại nhà thờ họ Nguyễn gốc ở làng Văn Lôi thuộc đất cố đô cổ Phong Châu nay là làng Vân Nội huyện Thanh Oai Hà Tây:

Hoàng đế Phục Hy đã có công khai sáng đất nước ta từ buổi đầu ở vùng phía tây dãy núi Ba Vì (tức dãy Tản Viên) tính đến thời đại chúng ta là trên 7000 năm.

Cha của Hoàng đế Phục Hy là Đế Hoà (Hoà là cây lúa) cũng gọi là Hoà Hy, mẹ của ông là Nữ Hoàng Anh,  vợ của ông là Nữ Đằng, con trưởng là Đế Khôi đổi họ Thần Nông được dân chúng suy tôn là Đế Thần. Như vậy Phục Hy là người có thật, có cha mẹ, vợ con, chứ Phục Hy không phải là nhân vật thần thoại.

Đất nước cổ Việt Nam theo Hans Stille (1876 - 1966) là Chủ tịch UB kiến tạo toàn thế giới: Lòng đất chứa hầu hết các yếu tố kiến tạo chính của vỏ trái đất vị trí này nằm  trên bản lề của Đại Lục phương Bắc và Đại Lục phương Nam của trái đất, đó là bản lề của 2 vành đai kiến tạo và sinh khoáng của hành tinh Thái Bình Dương và Địa Trung Hải đây là do trí tuệ dắt dẫn về phong thuỷ nên tổ Phục Hy mới định cư ở vùng này.

Rõ ràng Vua Phục Hy đã từng ở vùng núi Ba Vì, tức là nơi có kiểu nhà xây bằng đá tổ ong, gọi là nhà Đá (Thạch Thất).

Theo Ngọc Phả đã dẫn: Đế Viêm Phục Hy, năm 70 tuổi mới sinh con là Đế Khôi tức Thần Nông. Vua Phục Hy được dân chúng suy tôn là Đế Thiên. Thời Phục Hy đã dùng chữ thắt nút (chữ Khoa đẩu) sáng tạo ra Kinh Dịch tức là Đồ hình 8 quẻ (Bát quái). Cho đến nay Hoàng đế Phục Hy - Tổ Bách Việt mất đã 7000 năm, cũng là 7000 năm văn hiến của nước Việt Nam hiện đại. Sau khi cha mất, mẹ tuẩn tiết, Đế Khôi tức Thần Nông mới 13 tuổi nhờ bà mẹ nuôi là Trịnh Nương và ba con trai của bà cùng lực lượng trai tráng trong vùng đánh bại tên Hiền Viên là tên quản gia phản chủ, trục xuất hắn ra khỏi biên giới đất nước Viêm Bang phò Đế Khôi nối nghiệp vua cha. Đế Khôi được quần chúng kính phục suy tôn là Đế thần. Dựa theo Ngọc Phả của nhà thờ họ Nguyễn làng Văn Lôi trong hai tập 3 và 4 do  La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp năm đầu Quang Trung (1789) nghiên cứu ghi chép: Đế Thần nối nghiệp Vua cha đặc biệt chú trọng các mặt:

- Thứ 1: Củng cố lại Kinh Dịch của Tổ phụ truyền lại dựa vào cách quay của vị và thời trong trời đất, cách quay của mỗi con người và muôn vật trong cuộc sống của thời cổ đại.

- Thứ 2: Củng cố chữ viết thắt nút kiểu con nòng nọc (khoa đẩu) cải biến dần dần chữ viết này, mãi đến đời Sĩ Nghiếp vẫn còn, và bị Sĩ Nghiếp cấm, đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng (theo quyển: Lê phổ, phổ ký tục biên của dòng họ ngoại giáo sư Bùi Văn Nguyên).

- Thứ 3: Làm lịch theo hệ can chi để phục vụ việc chăn nuôi, săn bán, chài lưới trồng trọt do hai họ Hy Hoà chuyên trách. Thật ra 2 chữ Hy Hoà cũng là từ tên Phục Hy mà ra.

Từ thủa nào đó đã có 2 câu lục bát:

 

Ai về nhắn họ Hy Hoà

 

 

Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh.

 

(Năm Âm lịch theo chu kỳ trăng tròn cứ 5 năm thì nhuận 1 tháng 2 lần).

- Thứ 4: Bằng cách này hay cách khác tìm các cây cỏ làm thuốc và làm vườn thực nghiệm. Trước đây có lưu truyền cuốn Thần Nông Bản Thảo ghi chép về các cây thuốc.

- Thứ 5: Đế Thần tức Đế Khôi Thần Nông là vị vua lúa nước hô hào dân chúng khai khuẩn đất hoang làm ruộng trồng lúa, đồng thời làm nghề chài lưới, mới bắt đầu có của ăn của để đỡ phải đi hái lượm.

Thần Nông sinh con trai trưởng là Đế Tiết.

     Ông mất mộ táng tại phía Tây Phương đình Sở Khê - Tiên Lữ - Phong Châu

Giỗ vào ngày mùng 1 tháng 6 âm lịch.

Khảo sát về lịch sử xa xôi này, chúng ta thấy có nhiều điều thú vị - có 2 nhân vật chúng ta cho là truyền thuyết mà cả người Hoa và người Việt đều coi là Thuỷ Tổ của mình: Đó là Phục Hy và Thần Nông - Thật ra 2 cặp danh từ của 2 vị Thuỷ tổ đều mang dấu ấn văn phạm tiếng Việt hơn là tiếng Hán. Vua Phục Hy có nghĩa là ông Vua dạy dân thuần phục loại muông thú. Thần nông là một ông Vua dạy dân trồng lúa nước. Nếu là lãnh tụ của dân tộc Hán, theo văn  phạm Hán phải gọi là Hy Phục và Nông Thần.

Cổ sử Trung Quốc cũng đã viết: Vào thời Vua Nghiêu (năm 2357 TCN) có sứ giả Việt thường đến kinh đô Bình Dương (phía Bắc sông Hoàng Hà tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy (rùa lớn) vuông hơn 3 thước, trên lưng có khắc chữ khoa đẩu.

Chữ khoa đẩu mà người Trung Quốc gọi là chữ hình con nòng nọc, tức gồm những chấm đen, hay trắng, nối với những gạch ( ) và cả những vạch liền () và vạch đứt (– –) trông giống như những con nòng nọc. Vua Nghiêu cho sao lại trên mai rùa khác lưu lại trong "tàng thư" về sau có Chu Văn Vương thời vua Trụ nghi làm phản bị bắt giam trong ngục Dữu Lý 7 năm đã phát hiện ra cách viết các con số theo hệ nhị phân của lịch rùa Việt Thường cổ, và sắp xếp trật tự 8 quẻ tiên thiên thành trật tự mới gọi là hậu thiên bát quái, Tìm nguồn gốc của lịch rùa, cùng hệ can chi, nguồn gốc của Hà Đồ, Lạc thư trong Kinh Dịch cổ mà các học giả Trung Quốc  từ xưa tới nay đã viết và chú giải rất nhiều, nhưng không biết nguồn gốc chúng từ đâu đến.

Trước cái hoạ bành trướng xâm lăng, muốn duy trì nền văn minh cho con cháu mai hậu, Tổ tiên ta đã dùng con rùa (con vật sống lâu nhất từ 2 - 4 nghìn năm) để ghi khắc ký hiệu của một nền văn minh trên lưng nó, rồi đem thả xuống sông với hi vọng mai sau con cháu phải xuôi Nam tìm nơi sinh sống để gặp lại được vết tích của nền văn minh Lạc Việt cổ.

Một bài viết của học giả Nguyễn Thiếu Dũng đăng ở báo điện tử "Thanh niên.com.Việt Nam  chuyên mục khoa học ngày 06/07/2004 có viết như sau".

So với Kinh Dịch Phục Hy thì quyển Chu Dịch hiện lưu hành không theo một logic nào cả. Riêng trong bát quái Phục Hy trình tự rất nghiêm túc, hoặc theo Mẫu hệ đúng với lịch sử loài người là Khôn làm chuẩn đúng là Âm Dương chứ không phải là Dương Âm, hoặc theo phụ hệ thì lấy Kiền làm chuẩn - xét về Vị thì Khôn ở chính Bắc, nơi có gió lạnh tuyết rơi, xét về Thời thì Khôn chỉ tiết Đông chí (chính giữa mùa Đông). Quẻ Khôn với quẻ Kiền ở chính Nam (nơi nóng bức nhiệt độ cao, có khi hạn hán kéo dài, rồi lũ lụt bất thường bão tố bất thường).

Đó là 2 quẻ Bắc - Nam đối nhau. Cũng vậy 2 quẻ Ly và Khảm là 2 quẻ chính Đông và chính Tây đối nhau. Quẻ Ly ở chính đông tượng trưng cho mặt trời lúc mới mọc, cho nên khí hậu thông thường êm dịu (trừ khi trời động). Quẻ Khảm ở chính Tây, nơi mặt trời lặn. Đó là 4 hướng chính. còn 4 hướng chéo dành cho các quẻ còn lại là: Cấn, Chấn, Tốn, Đoài.

Bốn quẻ này đối chéo với nhau. Có 2 cách đối: Đối chéo ngang và đối chéo nghiêng. Thí dụ: Cấn đối chéo ngang với Chấn và đối chéo nghiêng với Đoài, còn Tốn lại đối chéo ngang với Đoài và Đối chéo nghiêng với Chấn.

Tóm lại xét về Vị và Thời các quẻ đối chính hay đối chéo, hoặc ngang hoặc nghiêng đều yên vị và yên Thời.

Theo cách xoay vòng ngược và xuôi kim đồng hồ theo kiểu Âm Dương, rất chặt chẽ theo lối nhị tiết của từng cặp quẻ chồng (trùng quái) của 64 quẻ kép.

Cuối năm 1973 khi người ta khai quật tại Mã Vương Đôi ở Hồ Nam Trung Quốc bắt được tài liệu Bạch Thư Chu Dịch viết trên lụa và 64 quẻ  chồng (trùng quái) là một thứ "ruột thầy bói" có tính chất cực đoan trong việc đảo lộn bát nháo, bất chấp có khoa học hay không ,có logic hay không.

Nơi sinh sống của cộng đồng người đã phát sinh ra Dịch Học là vùng ven biển; nơi núi liền với biển môi trường kép biển và núi từ đó mới sinh ra lưỡng nghi. Đoài và Cấn, quẻ Cấn tượng trưng cho núi. Việt ngữ có từ kép "Khuất núi" để chỉ sự chết, ý nghĩa này bắt nguồn từ việc mặt trơi lặn ở hướng tây với ý nghĩa này ta thu được thông tin: Người sáng tạo ra Dịch sống ở nơi phía Tây là núi và phía Đông là biển.

Xét như thế ta khẳng định : Dịch học không thể ra đời ở vùng biên Thiểm Tây - Sơn Tây, cái nôi của Hán tộc, vì đây là vùng đất nằm sâu trong đất liền, nơi chỉ có cát với cỏ thì làm sao có thể tưởng tượng ra cặp lưỡng nghi Đoài và Cấn.

Cặp hình tượng sấm sét và gió báo chỉ ra cộng đồng người đã sản sinh ra Dịch Học sống ở nơi mưa bão và sấm sét là chu kỳ lặp đi lặp lại hàng năm, sấm và bão là sự sống còn của cư dân nông nghiệp lúa nước, vì mưa là yếu tố quyết định canh tác lúa nước, người Việt đã tổng kết canh tác lúa nước: Nước, Phân, Cần, Giống. Mưa bão sấm sét là một sự kiện hoàn toàn đi đôi với nhau thành một lưỡng nghi của Dịch Học: Chấn, Tốn. Từ những lý lẽ trên xác định: Dịch học đã ra đời ở Việt Nam và cụ thể hơn là ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh.

Tổ Phục Hy của chúng ta sinh cách chúng ta 7000 năm, cuốn Kinh Dịch của người là cuốn triết học kỳ diêu. Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ, cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau 1000 năm mất chủ quyền ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch, và những gì ta nghĩ, ta làm, thấy giống Trung Hoa ta đều ngộ nhận mình học của Trung Quốc.

Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lý để nói rằng kinh dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo trên chính quê hương của mình; với nhiều bằng chững vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn.

2. Chứng lý vật thể.

Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên 2000 - 3000 năm TCN, các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc nồi bằng đất nung, chiếc nồi báu vật vô giá này mang trên mình nó hình khắc:

 

       

 

Quẻ Lôi Thuỷ Giải                là lời cầu nguyện của Tổ tiên chúng ta về

cảnh mưa thuận gió hoà, mong sao được sống cuộc đời an bình không có họa thủy tai.

Triết gia đầy uy tín của Trung Quốc Phùng Hửu Lan đã khẳng định trong "Trung Quốc triết học sử": Suốt thời nhà Thương chưa có bát quái, nghĩa là chưa có Kinh Dịch. Vào thời kỳ này trên mặt trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam và trước đó trên nồi đất nung tìm được trong văn hoá Phùng Hưng ở xóm Rền đã có khắc hình quẻ Lôi Thuỷ Giải.

Như vậy Kinh dịch ở nước ta trước Trung Quốc cả nghìn năm.

3. Chứng lý ngôn ngữ học.

Tên 8 quẻ đơn: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, là tiếng Việt không phải tiếng Trung Quốc.

              4. Chứng lý đồ tượng.

Kinh Dịch Trung Hoa thiếu một hình đồ tượng trọng yếu đó là Trung Thiên Đồ.

Tiên Thiên Đồ là Thiên Đồ

Hậu Thiên Đồ là Địa Đồ.

Trung Thiên Đồ là Nhân Đồ.

Mới đầy đủ theo thuyết Thiên Địa Nhân. Yếu tố liên kết giữa trời và đất chính là con người.

Vì vậy trong y lý Đông y cũng như những thời đại sáng tạo tâm linh của nhiều nước Châu Á rất coi trọng thuyết Thiên Địa Nhân. Thực chất đó là một mô hình tự điều chỉnh gồm 3 trung tâm (số 3 chỉ con người cũng là một số nguyên tố sinh ra  sau số 1 và 2).

Chính đó là cách tập hợp 3 hàng hay 3 lớp, lớp gạch Dịch học đã tạo được 8 quẻ của bát quái đồ và dần dần từ điểm xuất phát là quẻ 3 vạch chồng lên nhau thành 6 vạch là một tổ hợp toán học cổ đại nhất tạo thành 64 quẻ tiên thiên.

Chính ở thuyết Thiên Địa Nhân mà học giả Nguyễn Thiếu Dũng đã đi tìm Trung Thiên Đồ và hiện đang quản lý nó. Hiểu về Trung Thiên Đồ mà Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông sáng tạo ra học thuyết Thuỷ - Hoả và vận dụng một số quẻ Trung Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ trong y học.

Cố Giáo Sư  Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Phương trong một tham luận đánh giá về tác phẩm "với kiến thức y học hiện đại hiểu sâu hơn y lý Đông y để trị bệnh của Bác sĩ Hoàng Văn Sỹ nguyên phó giám đốc Viện Y học Cổ truyền Quân đội" nêu lên rằng: Cội nguồn xâu xa nhất của Đông y học là thái cực và tính chất tiểu Thiên Địa của con người, con người cũng là một thái cực hay một tiểu vũ trụ. Từ đó cha ông chúng ta không quên bộ tam tài Y - Lý- Số, trong đó nguyên lý Thiên Địa Nhân minh triết là ánh sáng dẫn đường.

Tác phẩm của bác sỹ Hoàng Văn Sỹ không nằm ngoài tam tài  Y - Lý - Số và xuất phát từ nguồn gốc tâm đắc nhất của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là mệnh môn hoả - Mệnh môn hoả là thái cực trong thân người. Đại danh y lại nói: Người thầy Đông y không biết Dịch thì đừng nói đến biết chữa bệnh. Tìm những quan hệ logic Ly, Khảm, Hoả, Thủy, tức là Dịch lý Đông phương từ gốc mệnh môn hoả tìm các trạng thái bệnh lý trên lâm sàng mới đề ra các phương pháp chẩn trị.

Kinh Dịch di sản tuyệt vời của cha ông chúng ta từ xa xưa có thể được chứng minh vừa là minh triết vừa là duy lý. Tính duy lý này có 2 mặt: Một là duy lý toán học tây phương, hai là duy lý vốn có của Việt Nam về y học ngay trong dịch. Nhất nguyên sáng tạo này sẽ là một trong những ánh hải đăng của một hay nhiều khoa kiệt tác về y học, nhân văn chẳng hạn của thiên niên kỷ 3 (tham luận của cố Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Phương).

    Trong y lý Đông y mà Việt Nam vận dụng Kinh Dịch: Quẻ Khảm thuộc thận thuỷ                  cho nên 2 hào âm ở 2 bên là 2 quả thận và hào dương ở

 

giữa là mệnh môn hoả: Thận dương.

Trong thiên nhiên và trong cơ thể con người bản chất của Thuỷ đã chảy xuống, bản chất của Hoả là bốc lên cho nên Hoả ở trên, Thuỷ ở dưới. Kinh Dịch gọi quẻ ấy là quẻ Hoả Thuỷ Vị Tế.

 

Trong phòng bệnh và trong điều trị phải chú trọng làm cho Thuỷ thăng lên, Hoả giáng xuống, Thuỷ ở trên Hoả ở dưới gọi là tương giao. Kinh Dịch gọi

 

quẻ ấy là quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế : Âm hoà hoãn dương kín đáo, nguyên khí là tổng hoà vận hoá của Thuỷ Hoả luôn được bổ xung và hằng định. Hoả được yên chỗ thì mọi hiện tượng đều tốt đẹp.

Với 2 quẻ Hoả Thuỷ Vị Tế và Thuỷ Hoả Ký tế để hiểu rõ hơn giữa con người và vũ trụ đều một nguyên lý chung. Lấy qủa đất để đối chứng:

Lòng trái đất là một khối lửa rất lớn được bao bọc xung quanh bằng vỏ trái đất là một lớp vật chất được Đại dương bao bọc, được tầng tầng, lớp lớp mạng lưới nước ngầm ôm lấy. trong thiên nhiên khối hoả này có khi cũng thoát ra ngoài thành núi lửa phun trào, nhưng rồi cũng được khối Thuỷ bao bọc dập tắt và quả đất vẫn tồn tại hàng tỷ năm.

Điều này đã được 2 quẻ Vị Tế và Kỵ Tế của Kinh Dịch vận dụng trong y học để xem xét giải bệnh cho con người.

 

 

KẾT LUẬN:

 

 

 

 

     Trong quá trình đi tìm cội nguồn của Kinh Dịch chúng ta còn nhiều chứng lý từ vật thể đến phi vật thể, từ ngôn ngữ đến văn bản, và cả những đồ tượng hiện nay còn ẩn dấu ở Việt Nam. Tuy nhiên cũng phải nói là Trung Quốc có công phát huy Kinh Dịch nhờ đó Kinh Dịch mới có bộ mặt vĩ đại như ngày nay, cũng như họ đã làm rạng rỡ cho Thiền, nhưng không ai có thể quên thiền có nguồn gốc từ phật giáo Ấn Độ. Ngày nay những nền văn hoá Hoà bình, Phùng Nguyên, Đông Sơn… đã được thế giới và nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới công nhận. Cho nên đã đến lúc cái gì của César phải trả lại cho César. Hi vọng trong tương lai nhiều nhà khoa học, nhà sử học và tầng lớp trí thức trẻ tiếp tục tìm hiểu để có bộ sách hoàn chỉnh về nguồn gốc sáng tạo bộ Kinh Dịch.

 

Hà Nội, ngày 20/11/2010

 

 

  Bác sĩ, Thầy thuốc ưu tú: Hoàng Văn Sỹ

 

 

Nguyên đại tá  phó giám đốc Viện Y hoc cổ truyền quân đội

 

 

 

 

Giới thiệu và chuyển vào blog: GS TS Nguyễn Duy Tuân

 

 

Chú thích của biên tập WebQDY :

 

Trong thiết kế chức năng trang WebQDY lúc đầu  chưa có mục Công trình khoa học trong nước chưa công bố , nên biên tập tạm thời dùng mục Công trình khoa học nước ngoài để chuyển tải bài viết này, sau khi bổ sung thiết kế chức năng trang WebQDY có muc này, sẽ chuyển bài này về đúng vị trí .

 

 

 

 

                                                                                


 

 

 

HOÀNG VĂN SỸ

 

Đại tá bác sĩ thầy thuốc ưu tú

 

      Nguyên phó giám đốc viện y học cổ truyền quân đội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÃ ĐẾN LÚC KHẲNG ĐỊNH:

 

KINH DỊCH

 

 LÀ DO NGƯỜI BÁCH VIỆT SÁNG TẠO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tháng 10 - 2010

 

 

 

 

 




  Comments

  16/03/2012 5:27:35 SA
Wimpsycf 


ypgslmyvx 
viewaskew premature ejaculation treatment - premature ejaculation treatment
  16/03/2012 12:49:05 SA
Zkaixsno 


fgnrhj 
cloquet ou acheter du viagra - ou acheter du viagra
  13/03/2012 11:20:39 SA
viagra online 


kykiw 
mums viagra online - viagra online
  13/03/2012 11:19:48 SA
viagra online 


kykiw 
mums viagra online - viagra online
  13/03/2012 11:19:03 SA
viagra online 


kykiw 
mums viagra online - viagra online
  13/03/2012 5:56:57 SA
personal loans for bad credit 


awgun 
naci online payday loans no credit check - online payday loans no credit check
  13/03/2012 12:45:21 SA
viagra online apotheke 


yxrpak 
qqqq apothekenfreie potenzmittel - apothekenfreie potenzmittel
  13/03/2012 12:43:58 SA
viagra online apotheke 


yxrpak 
qqqq apothekenfreie potenzmittel - apothekenfreie potenzmittel
  12/03/2012 7:40:46 CH
online order viagra 


xdlhhk 
erdman buy propecia online uk - buy propecia online uk
  12/03/2012 7:40:17 CH
online order viagra 


xdlhhk 
erdman buy propecia online uk - buy propecia online uk
  11/03/2012 12:07:27 SA
effoji 


ifdeskqt 
xJZJGr pgqczdrlinfm, [url=http://lrmbmnzxhmwm.com/]lrmbmnzxhmwm[/url], [link=http://snllxnzqttpw.com/]snllxnzqttpw[/link], http://zaswvjdrnjxa.com/
     



 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa