Search

 

 Tin Tuc News
Article List

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG NGÀNH QUÂN Y VÀ NGÀNH QUÂN Y XÂY DỰNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


 

Đại tá PGS PHẠM VĂN HỰU*

 

 

Cán bộ quân y là cán bộ quân sự lấy y nghiệp làm mục đích và phương tiện phục vụ sức khoẻ quân đội và cứu chữa thương binh bệnh binh.

Cán bộ quân y được thừa hưởng nhiều phần di sản tư tưởng Hồ Chí Minh: lý luận tổ chức cách mạng Việt Nam, lý luận tổ chức quân sự Việt Nam hiện đại và lý luận tổ chức ngành quân y Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hành y nghiệp.

Ngoài di sản tinh thần của tư tưởng Hồ Chí Minh mà hiện nay đang được kế thừa, vận dụng cho công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, theo con đường xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, ngành quân y còn có một số di cảo quý báu của Hồ Chí Minh viết về ngành y tế nói chung trong đó có ngành y tế quân đội. Cho đến nay đã có được 25 thư Hồ Chí Minh gửi cho ngành y


tế và ngành thương binh xã hội viết trong khoảng 20 năm từ 1947 đến 1967.

13 thư gửi cho Bộ Thương binh và thương binh bệnh binh, 4 thư gửi cho các hội nghị quân sự, chính trị có nói tới chấp hành chính sách thương binh bệnh binh, 8 thư gửi cho ngành y tế (chung cho y tế nhân dân và y tế quân đội 1, cho quân y 2, cho dân y 5).

Tất cả các thư này đều đã được công bố trong Hồ Chí Minh toàn tập.

Việc tiếp cận được càng nhiều giá trị khách quan của những di cảo này đã trở thành một nội dung khoa học cần nghiên cứu có hệ thống, trong đó tiếp cận được hạt nhân cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh là một yêu cầu vừa cách mạng vừa khoa học cho bất cứ người cán bộ y tế nào thật sự hoàn thiện mình theo tinh thần đổi mới của Đảng ngày nay.

Thông qua các di cảo viết về ngành y tế và một số tư liệu khác, những nghiên cứu bước đầu cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng ngành y tế (quân y và dân y) có hai nội dung.

- Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với y đức.

- Con đường tự hoàn thiện của cán bộ y tế để tiếp cận được chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

 

 

I

 

 

 

Hồ Chí Minh là nhà hoạt động cách mạng, danh nhân văn hoá thế giới, trong hoạt động thực tiễn xã hội trên bình diện quốc tế cũng như trong nước là người đã sớm bộc lộ có tư duy mới.


Tư duy mới ngày nay được quan niệm như là sự hoà hợp giữa các yếu tố chính của tư duy phương Đông (yếu tố duy vật biện chứng tự phát hoà lẫn với hoài bão tìm kiếm tính thống nhất của vũ trụ, sự hài hoà giữa những mâu thuẫn, trực cảm, huyền bí của tâm linh) với các yếu tố tiến bộ của tư duy văn hoá phương Tây (lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, đề cao phương pháp luận với cách phân tích tổng hợp dựa trên dữ kiện của thực tế).

Hồ Chí Minh đã sớm hoà nhập được tinh hoa của hai nền văn hóa đông và tây, điều mà theo trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương sẽ được thực hiện vào thế kỷ 21 theo con đường thâm nhập các nhóm, các nền văn hoá khác nhau, để dẫn đến sự thay đổi ở mức độ khác nhau ngay bên trong của mỗi nền văn hoá, đó là hiện tượng tích hợp văn hoá (acculturation).

Thông thường khi nói đến phương đông thường gán theo những khái niệm những thuộc tính như hướng nội, hiếu tĩnh, duy linh, tôn trọng truyền thống, khép kín, đặt cao vai trò tập thể hơn cá nhân, có khuynh hướng giải thoát tâm linh, quan hệ hài hoà giữa con người với thiên nhiên, tư duy nhất nguyên… Trong khi đó phương Tây lại được hiểu như một cực hoàn toàn trái ngược: hướng ngoại, hiếu động, duy lý, cởi mở, xem nặng vai trò cá nhân, tôn sùng các giá trị vật chất, chinh phục và đối lập với thiên nhiên, tư duy theo kiểu nhị nguyên.

Sự phân biệt có tính chất lưỡng cực nói trên thực ra chỉ có giá trị và ý nghĩa tương đối. Nếu gọi đây là hai cực của nền văn hoá phổ quát thì điều đó hoàn toàn không có ý nghĩa rằng bất cứ nền văn hoá đặc thù nào cũng đều thuộc về hoặc cực này hoặc cực kia. Trái lại trong thực tế, sự tác động qua lại giữa các yếu tố và các hệ thống văn hoá khác nhau đã đưa đến sự xuất hiện của các nền văn hoá đa hợp,


lưỡng tính, không hoàn toàn có tính chất thuần âm hay thuần dương. Sự khác biệt ở đây nếu có chỉ là sự khác biệt về tỷ lệ âm dương trong nội hàm của các nền văn hoá khác nhau. Ở đây sự hình thành hai cực đối lập, cực đông và cực tây, cực duy linh và cực duy lý, hoàn toàn chỉ có ý nghĩa như một công cụ phân tích văn hoá.

Ngày nay nền văn minh vật lý phương Tây đã phát triển rất cao, nhân loại đang được thừa hưởng những thành quả của nền văn minh này. Nhưng chính trong sự phát triển rực rỡ của nền văn minh vật lý này loài người phải đương đầu với nhiều cuộc khủng hoảng đe doạ sự tồn tại của chính bản thân mình: sự mất cân bằng giữa môi sinh, sinh thái và con người, dân số bùng nổ đi liền với nạn đói và suy dinh dưỡng, bạo lực và xung đột diễn ra không ngừng, hố sâu ngăn cách giàu nghèo ngày càng tăng… Nhưng đồng thời những giá trị văn minh tâm linh của phương đông cũng đang dần dần được khám phá lại và được đánh giá đúng đắn hơn. Một phong trào trở về với những giá trị của nền văn minh phương đông đã được làm sống lại ngay tại trong lòng các xã hội phương tây. Trong khi đó, ở các xã hội phương đông nơi từng có một di sản tâm linh đồ sộ, sự tiếp thu và học tập những giá trị phương tây đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Sự tổng hợp ở mức độ cao hơn các yếu tố của cả hai nền văn hoá đông tây đang trở thành những nhu cầu có thật và là một quá trình đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở vùng châu Á – Thái Bình Dương.

Hồ Chí Minh bằng mẫn cảm thiên tài, đã sớm nhận thấy điều này đã sớm tiếp thu tinh hoa và sức mạnh của nền văn hoá phương Tây mặt khác luôn tự khẳng định, bảo tồn bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình. Tư duy của Hồ Chí Minh là hoà nhi bất đồng trong việc tiếp thu tinh hoa của cả hai nền văn hoá.


Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp tác động đến việc hình thành chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, kết hợp với tinh hoa thời đại. Sự kế thừa và kết hợp đó làm cho thắm đượm thêm truyền thống nhân văn Việt Nam và nâng nó lên một bước mới. Việc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là tiêu chí báo hiệu sự gặp gỡ giữa truyền thống nhân văn của dân tộc và tính nhân đạo cộng sản chủ nghĩa trong con người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh coi giá trị truyền thống nhân văn Việt Nam không chỉ là đạo lý, là lương tâm mà còn là một lợi khí đấu tranh, giá trị tinh thần đã trở thành sức mạnh vật chất và phát huy đầy hiệu quả trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Loài người đã biết đến chủ nghĩa nhân văn Phật giáo mang tính phổ quát nhân loại đến mức phi lịch sử, phi giai cấp thì chủ nghĩa nhân văn Khổng giáo lại mang tính lịch sử, tính giai cấp rõ rệt. Chủ nghĩa nhân văn tư sản đề cao giá trị cá nhân tư hữu, chứ không phải giá trị cộng đồng của Khổng giáo và phương đông cổ, chủ nghĩa nhân văn tư sản là chủ nghĩa nhân văn của thời đại duy lý và thời đại công nghiệp.

Chủ nghĩa nhân văn Mác xít có bản chất và đặc điểm mới, nó không chỉ kế thừa hạt nhân hợp lý của các tư tưởng nhân văn trước đó mà còn xây dựng một hệ thống mới trên lập trường duy vật thực tiễn vừa có cơ sở khoa học, vừa có tính giai cấp công nhân rõ rệt. Chủ nghĩa nhân văn Mác xít cũng có những biểu hiện riêng khác nhau tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi nơi, mỗi lúc.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh có những nét tô đậm thêm chủ nghĩa nhân văn Mác xít. Đó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa lạc quan, lòng nhân nghĩa, tinh thần bác ái có từ đạo Phật, đạo Khổng, đạo Kitô và đã có ở dân tộc ta từ thuở vua Hùng dựng nước. Hồ Chí Minh quý trọng con người, cỏ


cây, sông núi, lo cả trồng cây lo cả trồng người, lo cho tất cả chỉ quên mình. Hoà bình, hữu nghị, thống nhất, độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc cho con người, dân tộc và toàn thế giới. Đó là những nội dung quan trọng nhất của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Thông qua di cảo, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trên bình diện y tế đã được biển hiện bằng những lời lẽ dễ hiểu, thiết thực, trực tiếp đi vào lòng người, có sức thuyết phục cao.

Đó là lòng yêu thương đằm thắm đối với chiến sĩ[1] và thương binh bệnh binh qua các thư gửi cho thương binh bệnh binh các năm 1947, 1978, 1951, 1951, 1952, 1953, 1954, 1956, 1957, 1958, 19592.


Hồ Chí Minh nhấn mạnh sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảo bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi1.

Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận thức tiến bộ của y học ngày nay coi con người là một chỉnh thể toàn bộ, vừa sinh học vừa văn hoá, có tính giai cấp đồng thời có tính nhân văn, tính xã hội rõ rệt. Sức khoẻ là cụ thể, vừa là sức lao động, vừa là trí tuệ sáng tạo, cải thiện năng suất, vừa là năng lực cảm giác yêu thương, hạnh phúc. Về phương diện kinh tế xã hội, sức khoẻ là nền tảng của sức lao động, yếu tố quan trọng cấu thành năng suất xã hội.

Hồ Chí Minh yêu cầu ngành y tế quân đội và y tế nhân dân phải rèn luyện tự hoàn thiện mình để xứng đáng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là như người mẹ hiền, lương y kiêm từ mẫu. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu tiến bộ ngày nay do Tổ chức y tế thế giới của Liên hiệp quốc đề xuất: người chữa bệnh phải là người thầy thuốc tổng quát, là người nắm kỹ thuật chăm sóc nhiều mặt, cả sinh học, bệnh học, trí tuệ, tình cảm, ý chí, giải toả các yếu tố độc hại từ môi trường, khuyến khích sự tích cực chủ động; xây dựng, dự trữ sức khoẻ của từng người, từng cộng đồng.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu2. Hồ Chí Minh khuyên nhủ cặn kẽ nhân viên quân y: phải nhận thấy vì sự kích thích trong


chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ hoặc vì những điều kiện thiếu thốn, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thấy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những trường hợp như vậy, chúng ta nên lấy tinh thần thân ái từ mẫu nghĩa là người thầy thuốc đồng thời là một người mẹ hiền.

Hồ Chí Minh căn dặn nhân viên y tế thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt…, tận tâm tận lực phục vụ nhân dân, lương y phải kiêm từ mẫu. Hồ Chí Minh tin cậy và giao phó trách nhiệm cho nhân viên y tế: người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy cán bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu, câu nói ấy rất đúng[2].

Hồ Chí Minh nhẹ nhàng nhắc nhở nhân viên quân y phải có những tổ chức bám sát bộ đội phục vụ chiến đấu: cần phải có những cơ quan quân y lưu động…, có kế hoạch để lập thành những cơ quan lưu động…, cơ quan ấy thì khó nhọc hơn, anh em sẽ xung phong phụ trách những cơ quan đó[3].

Hồ Chí Minh còn nhìn thấy trách nhiệm của nhân viên y tế trong việc góp phần bảo vệ sức khoẻ của giống nòi: việc giữ gìn và bồi dưỡng sức khoẻ của dân tộc, người y tá phải


gánh vác một phần quan trọng. Vì vậy y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm để bảo vệ sự kiện khang của giống nòi[4].

Tư duy mới và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh về y đức là như vậy, nó đặt cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người thấy thuốc và người bệnh. Không thể có mối quan hệ nào khác, sức khoẻ và bệnh tật của con người tuyệt đối không thể trở thành hàng hoá. Điều này chẳng những kế thừa y đức của Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác (1720-1791) mà còn phù hợp với những quan niệm về con người và sức khoẻ con người được tổ chức y tế thế giới của Liên hiệp quốc truyền bá vào những năm của thập kỷ 80 này.

Đạo làm thuốc là nhân thuật, có nhiệm vụ giữ gìn tính mệnh cho con người, phải lo cái lo của người và vui cai vui của người, chỉ lấy việc giúp người làm phận sự của mình mà không cầu lợi kể công. (Lê Hữu Trác).

Bằng những trắc nghiệm xã hội học tích luỹ lâu đời, người xưa đã đưa ra lời khuyên răn và cảnh cáo đối với ai mang danh hiệu thấy thuốc. Nhân giả, nhất thế y tam thế huy, bất nhân giả nhất thế y tam thế suy với người nhân ái một đời làm thuốc ba đời rạng rỡ, với người bất nhân một đời làm thuốc ba đời suy tàn).

Dù loài người có đạt những thành tựa khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu, dù tin học và tự động hoá có thể sáng tạo nhiều điều kỳ diệu, ngay trong lĩnh vực phòng và chữa bệnh, vẫn luôn tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữa những người thầy thuốc và người chữa bệnh, mối quan hệ đó càng nâng cao, mở rộng, chặt chẽ mang tính nhân văn sâu sắc. Sự hoàn thiện con người và cuộc sống con người trong tương lai gần


cũng như trong tương lai xa luôn luôn là như vậy và y đức cũng nhằm hoàn thiện mối quan hệ nhân bản này. Người thấy thuốc càng hoàn thiện được y đức của mình, tiếp cận càng nhiều với giá trị chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong việc nâng cao y đức, càng có điều kiện thực hành tốt y đức nghiệp cao quý của mình.

Để thực hiện y đức mang tính nhân văn Hồ Chí Minh này, ngành y tế quân đội và y tế nhân dân phải không ngừng phấn đấu tự hoàn thiện mình.

Tư tưởng Hồ Chí Minh yêu cầu trước hết là phải thật thà đoàn kết. Đoàn kết giữa cán bộ cũ với cán bộ mới, đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng đến các bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị en giúp việc[5]. Với nhân viên quân y là phải đoàn kết chặt chẽ nêu cao tinh thần tập thể[6], phải đoàn kết, kỷ luật, hăng hái, bác ái, hy sinh[7].

Đoàn kết trong ngành y vì sức khoẻ của con người là lẽ sống còn vì quá trình bảo vệ sức khoẻ cứu chữa thương binh, bệnh binh là một quá trình hành động tập thể sâu rộng, có nhiều chuyên ngành khoa học, nhiều cấp cùng tham gia, nhất là trong tình hình có chiến tranh thì yêu cầu này càng trở thành cấp bách. Phải đoàn kết thì mới thể hiện được y đức đối với người bệnh, mới đạt được hiệu quả cao nhất sao cho nhiều người, nhiều cấp cùng có nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ


được thực hiện thống nhất như chỉ do một người thực hiện. Đoàn kết không chưa đủ lại phải có kỷ luật rất nghiêm, rất chặt chẽ vì quá trình bảo vệ sức khoẻ và cứu chữa người bệnh cũng là quá trình phải tuân thủ một loạt những quy trình kỹ thuật đã trở thành điều lệ, chế độ động tác trong ngành y. Nó cũng có ý nghĩa sống còn với sức mạnh chiến đấu của quân đội như các điều lệnh quân sự.

Tinh thần bác ái trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh còn thể hiện trong thái độ đối với những ai đã ở trong hàng ngũ thực dân, xâm lược. Đối với những con người đã ngã xuống vì chiến tranh, sót thương với cả những hồn tử sĩ mà hôm qua đã gây ra tai hoạ cho đồng bào mình, Hồ Chí Minh viết: tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương sót cho những người Phát đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người[8].

Trong chiến dịch Biên Giới 1950 vào một chiều đông giá lạnh, Hồ Chí Minh đi thăm trận địa đã cởi tấm áo dạ ấm áp của mình khoác vào vai một bác sĩ tù binh người Pháp bị thương.

Hồ Chí Minh dành thời gian hỏi thăm, tiễn đưa những người lính đối phương được trở về quê hương và dặn dò: trên đường về hãy tự giữ gìn kỷ luật một cách gương mẫu… để cho mọi người đều giữ được những kỷ niệm tốt đẹp về các bạn. Về đến nhà hãy chuyển đến gia đình các bạn lời chào của nhân dân Việt Nam. Trong số các bạn những ai còn cha mẹ già và con nhỏ hãy nói với các cụ, các cháu là Bác Hồ


gửi nhiều cái hôn tất lành. Xin từ biệt các bạn thân mến, từ biệt các con của Bác[9].

Lòng bác ái cao quý của Hồ Chí Minh đã được truyền đến nhân viên y tế. Nhân viên quân y đã thể hiện lòng bác ái cao cả này của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong nhiều dịp cứu chữa thương binh bệnh binh của địch trong suốt ba mưu năm chiến tranh giải phóng, đặc biệt là trong những khi kết thúc những chiến dịch quan trọng có nhiều tù binh bị thương, bịnh trong các chiến dịch biên giới Cao Bắc Lạng 1950, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, trong việc cứu chữa cho các phi công trong quân đội Mỹ bị thương, bị bệnh khi bị bắt làm tù binh, trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1975 đối với tù binh của nguỵ quyền Sài Gòn bị thương, bị bệnh.

Người thầy thuốc có được tấm lòng nhân ái như chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là một yêu cầu hàng đầu trong việc thực hành y nghiệp. Ngành y tế phải được xây dựng như thế nào để phục vụ có hiệu quả cao nhất, để người thầy thuốc phát huy được cái tâm của người mẹ hiền, không chỉ dừng lại ở tấm lòng bác ái chung chung, không có khả năng đáp ứng nhưng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân và cứu chữa người bệnh.

Hồ Chí Minh đã vạch ra phương hướng cơ bản cho ngành y tế tự hoàn thiện mình ngang tầm yêu cầu của xã hội phát triển. Hồ Chí Minh kêu gọi ngành y tế phải thi đua ái quốc, thi đua tìm ra những thứ thuốc mà nước ta sẵn có nguyên liệu…, thi đua tìm cách chữa chống khỏi mà tốn ít thuốc…, thi đua tìm những thuốc dễ sắm nhất và hiệu nghiệm nhất…, chữa những bệnh phổ thông nhất nước ta là đau mắt, ghẻ,


kiết lỵ, tả, sốt cơn, sốt cảm, báng… Ngoài ra cách tổ chức làm việc, tuyên truyền vệ sinh số bệnh nhân được chữa khỏi, giúp đỡ dân chúng vân vân đều là những điểm cần đưa vào cuộc thi đua1…, cần giúp đồng bào giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng2 … ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốc đông và thuốc tây3.

Hồ Chí Minh còn gương mẫu trong việc tự rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ của chính mình để phục vụ được lâu hơn, Hồ Chí Minh tập thể dục đều đặn, thường dậy sớm để tập thể dục rồi tắm nước lạnh, tham gia tập bóng chuyền, làm tổng vệ sinh, đi bộ từng lúc chạy bộ, đi ngựa, leo núi, tập khí công, tập thái cực quyền. Phong cách vừa khoa học vừa nghệ thuật này đã giúp Hồ Chí Minh chiến thắng bệnh tật, đủ sức làm trăm công nghìn việc mà vẫn thảnh thơi thư thái, có thời gian chơi với các cháu thiếu nhi, làm vườn, chăm sóc phong lan, nuôi cá và làm thơ4.

Một lần nữa tư duy và sự hội nhập hài hoà tinh hoa của hai nền văn hoá đông và tây trong tư tưởng Hồ Chí Minh lại được khẳng định tính khách quan và khoa học trên lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ, cứu chữa bệnh tật.


Tư tưởng Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu phải xuất phát từ thực tiễn và đất nước, con người Việt Nam, biết tận dụng, khai thác tiềm năng cây thuốc, con thuốc sẵn có trong đất nước với tinh thần rất tiến bộ và khoa học của Tuệ Tĩnh về nam dược trị nam nhân, kế thừa kinh nghiệm lịch sử và bảo vệ sức khoẻ của tổ tiên, khai thác những yếu tố phòng bệnh và chữa bệnh đã được phát hiện hoặc còn tiềm ẩn trong nhân dân, phải xuất phát từ cơ cấu bệnh tật của nhân dân ta, đặc biệt là những bệnh phổ biến có ảnh hưởng to lớn đến sức khoẻ và sức lao động của con người, phải biết tìm những thứ thuốc dễ kiếm, dễ tìm, có hiệu quả nhất. Đó là những nội dung cơ bản thể hiện tính khoa học, dân tộc và đại chúng trong ngành y tế.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh kinh nghiệm chữa bệnh, phòng bệnh của tổ tiên ta bằng thuốc ta, thuốc bắc, biết tận dụng dược liệu sẵn có tại chỗ, lại yêu cầu chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc đông và thuốc tây trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ và chữa người bệnh.

Đây là một định hướng khoa học cực kỳ quan trọng, được nêu ra từ rất sớm, chẳng những đúng đắn khách quan trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thầy, thiếu thuốc mà còn khoa học ngay khi lực lượng và phương tiện y tế đã tăng trưởng khá hơn.

Trong những năm của thập kỷ 80 này, tổ chức y tế thế giới của Liên Hiệp Quốc đã đưa ra một chiến lược sức khoẻ cho mọi người đến năm 2000 trong đó nhấn mạnh đến yêu cầu huy động mọi nguồn lực trong nền y học cổ truyền của mỗi nước trên thế giới cùng với các nguồn lực của y học hiện đại trong việc thực hiện nhiệm vụ cao cả này.

Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới của Liên Hiệp Quốc Dr. Halfban Mahler viết: Hiện nay các nước thành viên của


Tổ chức y tế thế giới đang áp dụng những chiến lược sao cho từ nay đến năm 2000, tất cả mọi người được hưởng một trình độ sức khoẻ giúp cho họ có thể có một cuộc sống xã hội và kinh tế thịnh vượng. Mục tiêu này được gọi là sức khoẻ cho mọi người đến năm 2000. Để đạt được điều này phải sử dụng tất cả mọi phương tiện hữu ích và huy động tất cả mọi nguồn lực có thể huy động. Trong những phương tiện và nguồn lực đó có những vấn đề về sử dụng những phương tiện và nguồn lực y học cổ truyền và tại chỗ.

Quan niệm này đã được phê chuẩn tại Hội nghị quốc tế về săn sóc sức khoẻ ban đầu tại Alma – Ata năm 1978. Tuyên ngôn Alma – Ata đã nói tới những săn sóc sức khoẻ ban đầu cần phải tìm kiếm ở những nhân viên y tế, kể cả nếu có điều kiện là sự tham gia của những người thầy thuốc cổ truyền đã được chuẩn bị về mặt xã hội và kỹ thuật, tổ chức lại thành nhóm công tác nhằm đáp ứng những nhu cầu bảo vệ sức khoẻ do các cộng đồng đặt ra.

Để cho công việc làm việc theo nhóm công tác mang lại hiệu quả, mỗi thành viên của mỗi nhóm công tác phải hiểu được nhiệm vụ của người khác.

Từ khi có sự kết hợp củ̉a y học cổ truyền trong những chương trình của Tổ chức y tế thế giới từ 1976, hố sâu ngăn cách giữa những hệ y học cổ truyền và hiện đại dường như có phần được giảm bớt. Y học hiện đại đã được thể hiện có một mối quan tâm thật sự tới những điều được thực hiện trong y học cổ truyền và người thầy thuốc y học cổ truyền bắt đầu chấp nhận và sử dụng một số kỹ thuật của y học hiện đại.

Ở một số nước đang phát triển, một số quan chức y tế đã quyết định phối hợp các thầy thuốc y học cổ truyền trong việc săn sóc sức khoẻ ban đầu và đã thu được những kinh nghiệm đáng kể.


Hy vọng rằng các chính phủ đã có quyết định về chiến lược sức khoẻ có được những phương tiện cổ truyền phù hợp1.

Hồ Chí Minh thực hiện việc tự rèn luyện, thực hiện một chế độ sinh hoạt và làm việc khoa học là điều phù hợp với quan niệm hiện đại và tiến bộ trong bảo vệ sức khoẻ của mỗi cá thể trong cộng đồng, phản ánh tư tưởng dự phòng trong y học. Những nhà lâm sàng học có kinh nghiệm đều thừa nhận người thầy thuốc vĩ đại nhất là người ít dùng thuốc chữa bệnh nhất và ý thức rằng mình chỉ là người trợ lý đắc lực cho Tự Nhiên trong quá trình tự điều chỉnh.

Ngày nay trong điều kiện công nghiệp dược phẩm phát triển rất nhanh chóng và cũng thu được lợi nhuận khổng lồ nên việc tung ra thị trường nhiều thuốc mới làm khổ cho cả người kê đơn thuốc và người dùng thuốc (không kể những trường hợp như nước ta, người bệnh tự mua thuốc ở bất cứ đâu và tự chọn lựa thuốc cho mình, và cũng sẵn sàng chỉ dẫn cho những người khác làm như kinh nghiệm của mình). Không ít thuốc được tuyên truyền rộng rãi là tiến bộ của khoa học dược phẩm, là thuốc đặc trị, là biệt dược,… và chỉ ít lâu sau lại hoá ra là nó có hại hoặc thực chất chẳng có lợi gì cho người bệnh. Người thầy thuốc đã phải tra cứu những dược điển dày hơn danh bạ điện thoại, ghi tên hàng ngàn thứ thuốc để biên một đơn thuốc cho bệnh nhân, nhiều thứ thuốc cho đơn chỉ vì người bệnh muốn dùng chứ trong đám rừng tên thương mại của thuốc ấy, người thầy thuốc không thể chắc chắn thuốc nào trị được bệnh nào. Phương


pháp, chữa bệnh khá phổ biến hiện nay là trước tiên cho bệnh nhân dùng một số liều thuốc thăm dò để xem cái nào có hiệu quả đối với cơ thể và bệnh tật, bước thứ hai là dùng những liều thuốc hoá giải các độc hại do đợt thuốc trước gây ra, bước thứ ba là ngăn chặn tác hại (hay tác dụng phụ) của hai đợt thuốc trước bằng một loạt thuốc độc khác, mạnh hơn và đương nhiên độc hơn. Cứ như vậy mà hao mòn sức khoẻ và tiền bạc của người bệnh, và người thủ lợi không có ai khác là nhà kinh doanh chế thuốc và người kê đơn thuốc. Người thầy thuốc có kinh nghiệm là người nhận thức được hơn ở lĩnh vực nào hết, trong lĩnh vực chữa bệnh, con người rất dễ tác động mù quáng vào tự nhiên. Tự nhiên luôn luôn tự điều tiết, tự hoàn chỉnh, tự cân đối và tự bảo vệ, duy trì sự lành mạnh của nó. Vấn đề là để Tự Nhiên có thời gian làm việc và đừng vô tình hay cố ý tiến hành những biện pháp chống lại tự nhiên.

Người thầy thuốc trẻ bắt đầu kiếm sống bằng nghề y thì dùng hai mươi thứ thuốc để chữa một bệnh, người thầy thuốc già chỉ dùng một thứ thuốc để chữa hai mươi bệnh và kết thúc y nghiệp luôn.

Hồ Chí Minh đã nhắc đến câu nói của Khổng Tử: Cung dưỡng ích kiện1 là chỉ việc chăm lo nuôi dưỡng hợp lý là điều có lợi cho sức khoẻ.

 

 

II

 

 

Trong nửa thế kỷ qua, dưới lá cờ Quyết thắng ngành quân y đã được tổ chức, xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trên


tổng thể cũng như trên cụ thể y học và y nghiệp. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân uỷ trung ương và các cấp uỷ Đảng trong quân đội, ngành quân y đã lấy xây dựng về chính trị, tư tưởng là cơ sở, lấy tinh thần thầy thuốc mẹ hiền làm trung tâm của xây dựng y đức, lấy bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của quân đội làm mục đích hành động, lấy đoàn kết dựa vào quân đội, dựa vào nhân dân, phục vụ quân đội phục vụ nhân dân làm sức mạnh, lấy hoạt động của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường làm căn cứ nghiên cứu, cải tiến, phát triển mọi mặt công tác bảo đảm và lấy nâng cao trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật làm nội dung yêu cầu hành động của từng người, từng bộ phận.

Ngành quân y đã được giáo dục nâng cao dần trình độ giác ngộ cách mạng, xác lập và kiên định được lập trường kháng chiến, từ giác ngộ dân tộc lên giác ngộ giao cấp, rèn luyện cho ngành quân y có được bản chất của giai cấp công nhân, bản chất quân đội nhân dân, biết đấu tranh biết đoàn kết xây dựng ngành.

Ngành quân y đã xây dựng theo quan điểm y học cách mạng, quan điểm thương binh bệnh binh của Hồ Chí Minh, quan điểm khoa học kỹ thuật chuyên môn phục tùng chính trị, về đạo đức tác phong là xây dựng và thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần lương y như từ mẫu.

Ngành quân y đã được xây dựng thành một tổ chức hữu cơ của quân đội, có tổ chức chặc chẽ, có lề lối làm việc thống nhất, đủ khả năng cơ động phục vụ cho các yêu cầu chiến đấu, chiến thuật và chiến dịch, bảo đảm đắc lực cho các yêu cầu bảo vệ sức khoẻ cứu chữa thương binh bệnh binh, tạo điều kiện khoa học kỹ thuật y dược học phát triển trong quân đội.


Ngành quân y đã từng bước phát triển từ y học chung thành y học quân sự, tích luỹ được nhiều thực tiễn và kinh nghiệm quý báu bảo đảm cho quân đội xây dựng và tác chiến liên tục nhiều năm trên chiến trường cả nước, đặc biệt là trong môi trường nhiệt đới ẩm và rừng núi, đã xây dựng dược những cơ sở lý luận ban đầu có tính chung của thế giới và tính riêng của Việt Nam, phản ánh đúng đắn khách quan điều kiện xây dựng và chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngành quân y đã có được một đội ngũ cán bộ đông đảo, có phẩm chất chính trị trong sáng, có lập trường cách mạng kiên định, có trình độ khoa học kỹ thuật nhất định, bao gồm nhiều lớp cán bộ kế tiếp nhau, bổ sung cho nhau, đã vươn lên mạnh mẽ, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, quân đội, thương binh bệnh binh.

Những tiến bộ vững chắc, hợp logic của ngành quân y, của nhân viên quân y các cấp đã được Hồ Chí Minh động viên khen ngợi vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra rất khẩn trương và ác liệt trên phạm vi cả nước[10].

Điều đáng chú ý là những nhận định và đánh giá của Hồ Chí Minh trước những tiến bộ của ngành quân y đã trùng hợp hoàn toàn với những nội dung của các tư tưởng Hồ Chí Minh đã vạch ra cho ngành y tế quân đội và y tế nhân dân tự hoàn thiện mình.

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, ngành quân y đã có nhiều cố gắng và đã lập được thành tích trong việc cứu chữa thương binh bệnh binh cũng như trong việc giữ gìn sức khoẻ bộ đội.


Quân y đã cùng với ngành y tế nhân dân chế được nhiều thuốc hay, tìm được nhiều cách chữa giỏi, góp phần tổ chức hướng dẫn cho bộ đội cách ăn ở tốt và đã đào tạo, bồi dưỡng được nhiều cán bộ, nhân viên tốt.

Nhiều cán bộ, nhân viên quân y đã nêu cao tinh thần dũng cảm, tận tuỵ cứu chữa đồng đội.

Nhiều đơn vị quân y đã có thành tích xuất sắc.

Cán bộ nhân viên y còn tham gia cứu chữa, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân nơi đóng quân…

Bác nhắc nhở các cô các chú phải:

- Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng và chuyên môn kỹ thuật.

- Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là như người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khoẻ của bộ đội…

Nhân dịp này Bác thân ái hỏi thăm các đồng chí thương binh, bệnh binh, khuyên các đồng chí yên tâm chữa bệnh để mau chóng trở lại công tác[11].

Thư gửi cho ngành quân y ngày 31 tháng bảy năm 1967 là thư cuối cùng, là di cảo cuối cùng gửi cho ngành y tế. Đây là sản nghiệp tinh thần thiêng liêng dành cho ngành quân y trong quá trình phấn đấu, đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh để hoàn thiện mình trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo.

Tuy nhiên vào những năm cuối của thập kỷ tám mươi, trước những khó khăn về kinh tế xã hội chồng chất sau nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế trong nước đứng trước


những thử thách rất to lớn, lạm phát đến mức phi mã, khủng hoảng kinh tế xã hội đã lên tới cao trình, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu khủng hoảng nghiêm trọng và tan rã đã có những tác động không nhỏ trong xây dựng và phục vụ của ngành quân y.

Từ sau Đại hội VII của Đảng, nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý tích cực của Nhà nước và sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân đã khắc phục được một bước rất quan trọng tình trạng khủng hoàng kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, mở rộng đáng kể quan hệ đối ngoại, tạo ra những tiền đề cần thiết để đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới.

Trong tinh hình nền kinh tế nước ta đã chuyển mạnh từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước nên các hoạt động y tế nói chung đã nẩy sinh xu hướng chạy theo lợi ích vật chất trước mắt, nhân viên y tế trong một số cơ sở khám bệnh và chữa bệnh đã có biểu hiện giảm sút về tinh thần, thái độ, trách nhiệm phục vụ làm ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ y tế.

Từ đầu những năm chín mươi, một số bệnh viện quân đội đã thực hiện dịch vụ y tế nhằm mở ra một mạng lưới cứu chữa mới với mục đích tăng thu dung cứu chữa, nâng cao tay nghề cho cơ sở và nhân viên quân y, tăng thêm một khoản thu nhập chính đáng bổ sung vào ngân sách để nâng cấp một phần cơ sở vật chất kỹ thuật y tế, tăng cường hơn nữa quan hệ quân dân… Qua một thời gian thực hiện bên cạnh những mặt tốt đã đạt được, đã nảy sinh những kết quả tiêu cực, bộc lộ những hiện tượng xa lạ với truyền thống tốt đẹp của quân đội và của quân y, trái với lời dạy của Hồ Chí


Minh về y đức cũng như không tự giác hoàn thiện mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong y nghiệp.

Trước tình hình đó, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị đã ra chỉ thị[12] phát động trong toàn quân cuộc vận động xây dựng đơn vị có phong trào quân y 5 tốt, chiến sĩ quân y làm theo lời Bác Hồ. Trong quý ba năm nay Tổng cục chính trị đã tổ chức sơ kết cuộc vận động này trong toàn quân nhằm đánh giá phong trào thi đua quyết thắng và cuộc vận động xây dựng đơn vị quân y 5 tốt và chiến sĩ quân y làm theo lời Bác.

Nội dung cuộc vận động thi đua đều nhằm vào những việc làm cụ thể của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân chiến sĩ quân y cần thực hiện để tự hoàn thiện mình trong nhiệm vụ hiện nay của quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức và y nghiệp.

Xây dựng đơn vị quân y 5 tốt có các nội dung:

Phục vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện xây dựng đơn vị tốt.

Có nếp sống vệ sinh khoa học, bảo đảm quân số khoẻ tốt.

Quản lý sức khoẻ và cấp cứu điều trị tốt.

Có vườn thuốc nam, kết hợp y dược học hiện đại với y dược học cổ truyền.

Quản lý và sử dụng thuốc, trang bị tốt. Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác có các nội dung:

Quan điểm, tinh thần phục vụ tốt.

Điều trị cấp cứu tốt.

Bảo đảm sức khoẻ bộ đội tốt.

Hoạt động y dược dân tộc tốt.

Quản lý sử dụng vật chất kỹ thuật tốt.

Việc tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong y đức và y nghiệp đã được quy định thành chế độ: hàng năm từ ngày 27 tháng hai (Ngày thầy thuốc Việt Nam) đến ngày 19 tháng năm (ngày sinh của Hồ Chí Minh) được giành để tổ chức việc kiểm điểm bình xét các tập thể và cá nhân theo tiêu chuẩn đơn vị quân y 5 tốt và chiến sĩ quân y làm theo lời Bác, lấy đó làm thước đo phẩm chất, năng lực và kết quả công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân y, kết hợp chặt chẽ quy định về kết hợp bình xét đơn vị quân y 5 tốt, chiến sĩ quân y làm theo lời Bác với việc phân loại tư cách đảng viên, đoàn viên với việc bình xét thi đua khen thưởng.

Tuy thi đua và phong trào thi đua là biện pháp rất quan trọng của tổ chức nhằm vận động quần chúng hướng vào việc tốt, làm việc tốt, tìm được người tốt để cùng thúc đẩy sự tiến bộ chung nhưng không thể đầy đủ được nếu không có tinh thần phấn đấu của cá nhân, tinh thần đó là mỗi chiến sĩ quân y luôn luôn tìm được những ý nghĩa mới, những niềm vui tinh thần mới cùng với sự hoàn thiện cá nhân mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

 



* Cục quân y – Tổng cục Hậu cần.

[1] Tư chiến sĩ. Hồ Chí Minh (HCM) toàn tập, tập 5, tr. 471.

2 Lời kêu gọi nhân dân ngày 27-7-1948, sách đã dẫn (Sđd) tr. 115 – 116.

Thư gởi anh em thương binh, bệnh binh 7-1948, tr. 118.

Bài nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5, tháng 8-1948, Sđd, tr. 125 – 127. Thư gởi hội nghị chính trị viên tháng 3-1948. Sđd tr. 60-62. Thư gửi ban tổ chức Trung ương ngày thương binh 27-7-1950, sđd tr. 403. Thư gửi các chiến sĩ bị thương trong trận Đông Khê 20-9-1950, sđd tr. 429. Thư gửi cụ Bộ trưởng thương binh, cựu binh 27-7-1951, tập 6, tr. 95. Thư gửi các các thương binh tại mặt trận Trung du và Đông Bắc, Sđd, tr. 46. Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần I tháng 6-1952, sđd tr. 282 – 287. Thư gửi cụ Bộ trưởng thương binh cựu binh ngày 27-7-1952, sđd, tr 289. Thư gửi Hội nghị cán bộ của Tổng cục cung cấp năn 1953, sđd, tr 415-416. Thư gửi cụ Bộ trưởng Bộ thương binh nhân ngày thương binh liệt sĩ 7-1954. HCM toàn tập, tập 7 trang 8-9. Thư gửi thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ tháng 7-1956, HCM toàn tập, tập 7, tr. 476-477. Nói chuyện với đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu 29-1-1957, HCM toàn tập, tập 7 tr. 577.

Thư gửi thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ tháng 7-1958, HCM toàn tập, tập 8 tr. 166. Thư gửi anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ngày 27-7-1959, sđd, tr. 458.

1  Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế họp tại Liên khu Việt Bắc từ ngày 26-5 đến ngày 9-6-1953, HCM toàn tập, tập 6, tr. 413-414.

2 Thư gửi Hội nghị quân y tháng 3-1948, HCM toàn tập, tập 5, tr 64-66.

[2] Thư gửi hội nghị cán bộ y tế, tháng 3-1955, HCM toàn tập, tập 7, tr. 64.

[3] Thư gửi Hội nghị quân y, tháng 3-1948, HCM toàn tập, tập 5 tr.66.

[4] Thư gửi nam nữ học viên Trường y tá Liên khu I, tháng 2-1949, toàn tập, tập 5, tr. 199.

[5] Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, tháng 2-1955, HCM toàn tập, tập 7, tr. 64-66.

[6] Thư khen cán bộ nhân viên quân y 31-7-1967, HCM toàn tập, tập 10, tr 573-574.

[7] Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I – Tổng cục Hậu cần xuất bản, H. 1991, tr.56.

[8] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4 tr.194.

[9] Báo QĐND ngày 5-4-1990.

1 Thư Hồ Chủ tịch gửi khoáng đại Hội nghị y tế Liên khu từ 4-7 thang 6-1949 tại Liên khu 10 – Lưu trữ Bộ Y tế.

2 Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế 2-1955 - Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, tr. 64-66.

3 Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế 2-1955 - Hồ Chí Minh, toàn tập 7, tr. 64-66.

4 Chủ tịch Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá, NXB KHXH, H, 1990,tr 118.

1 Médecine traditionnelle et couverture des soins de la santé. OMS Genève 1983, pp 7-8.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành quân y. Nguyễn Sĩ Quốc, tài liệu đánh máy 13, tr 1993.

1 Thư của Hồ Chủ tịch gửi khoáng đại Hội y tế Liên khu ngày 4 đến ngày 7 tháng 6-1949 tại Liên khu 10 – Lưu trữ Bộ Y tế.

[10] Thư khen cán bộ và nhân viên quân y 31-7-1967. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, tr. 573-574.

[11] Thư khen cán bộ và nhân viên quân y 31-7-1967 - Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, tr 573-574.

[12]  Chỉ thị số 78, ngày 30 tháng 3 năm 1989.




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa